Quá trình phát triển

Lịch sử xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn với từng thời kỳ lịch sử bảo vệ và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam...

1957 - 1981

Giai đoạn “Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” gắn với thời kỳ “lập nghiệp - khởi nghiệp” (1957 - 1981) của BIDV với chức năng chính là hoạt động cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản theo nhiệm vụ của Nhà nước giao, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Giai đoạn này, đất nước trải qua ba thời kỳ lớn gồm: (i) cải tạo phát triển kinh tế đất nước sau khi hòa bình lập lại (1957 - 1960); (ii) vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1961 - 1975); (iii) khôi phục kinh tế sau chiến tranh, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1981).

Sự ra đời của Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam gắn với yêu cầu phục vụ công cuộc kiến thiết, xây dựng miền Bắc, trong điều kiện đất nước vừa được giải phóng, hòa bình được lập lại nhưng hai miền vẫn bị chia cắt. Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam có nhiệm vụ là cơ quan chuyên trách việc cấp phát, quản lý toàn bộ số vốn do ngân sách nhà nước cấp dành cho đầu tư kiến thiết cơ bản được thực hiện theo kế hoạch và dự toán của Nhà nước.

Tuy chỉ kéo dài khoảng 1/4 thế kỷ, song hoạt động của BIDV trong giai đoạn này trải qua ba thời kỳ: thời kỳ phục vụ “kiến thiết” đất nước trong điều kiện hòa bình xây dựng; thời kỳ vừa phục vụ yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam và thời kỳ cả nước thống nhất, hòa bình, phục vụ công cuộc khôi phục sau chiến tranh, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ba thời kỳ, với bối cảnh, điều kiện hoạt động và yêu cầu nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều có một điểm chung: các nhiệm vụ mà BIDV được giao đảm trách đều được thực hiện trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn gian khổ, đều được giải quyết trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hóa tập trung - bao cấp, khi Ngân hàng mới được thành lập, còn non yếu và từng bước trưởng thành. Đây chính là nét đặc trưng lớn nhất của BIDV trong giai đoạn khởi đầu.

Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh (1957 - 1975), Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, dù mới thành lập, bộ máy hầu như chưa hề có kinh nghiệm, chưa có năng lực chuyên nghiệp trong hoạt động ngân hàng - loại hình thể chế được coi là “bậc cao nhất” của các hệ thống kinh tế, song phải đảm trách đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược to lớn trong những điều kiện đặc biệt khó khăn - đóng góp vào việc kiến thiết (phục hồi) nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu bị tàn phá sau chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và “chi viện” cho kháng chiến trên cả hai mặt trận - bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam. Tương ứng với hai mặt trận, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam tham gia phục vụ đắc lực cho hai nhiệm vụ chính trị cơ bản là chống chiến tranh phá hoại và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần trực tiếp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam luôn có mặt ở những mặt trận nóng bỏng nhất, cung ứng vốn kịp thời, hiệu quả cho việc xây dựng các công trình kinh tế, quốc phòng. Nhờ đó, những công trình giao thông vận tải, ống dẫn dầu chi viện cho tuyến lửa và hàng loạt công trình quốc kế, dân sinh như: nhà máy, cầu đường, bến cảng, công trình thủy lợi, điện, than, khai khoáng, nông, lâm trường, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa,... được ra đời trên khắp miền Bắc.

Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong việc quản lý vốn cấp phát kiến thiết cơ bản, hạ thấp giá thành công trình, thực hiện tiết kiệm, tích luỹ vốn cho Nhà nước,... Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đã thực hiện cung ứng vốn cho hàng trăm công trình, đồng thời tránh cho nguồn vốn tài chính khỏi bị ứ đọng và các nguồn lực không bị lãng phí,... góp phần vào việc cân đối thu chi, tạo thuận lợi cho việc quản lý thị trường, giữ vững ổn định giá cả...

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước hoà bình thống nhất, một lần nữa, BIDV lại tiếp tục nỗ lực thực hiện sứ mệnh “kiến thiết” của mình trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh nặng nề trên cả hai miền đất nước; tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ở miền Nam, khôi phục và xây dựng mới các công trình quốc kế dân sinh trên nền đổ nát của chiến tranh ở miền Bắc. Ngân hàng Kiến thiết đã cung ứng vốn cho các công trình công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, công trình phúc lợi và đặc biệt ưu tiên vốn cho những công trình trọng điểm, then chốt của nền kinh tế quốc dân

1981 - 1990

Giai đoạn “Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam” gắn với một thời kỳ sôi nổi của đất nước - chuẩn bị và tiến hành công cuộc đổi mới (1981 - 1990). Trong giai đoạn này BIDV đã thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm là phục vụ nền kinh tế, cùng với cả nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường.

Giai đoạn 10 năm 1981 - 1990 là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế, và rộng hơn là của cả đất nước. Sau rất nhiều trăn trở, trả giá, nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế, chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, ngày 24-6-1981, Ngân hàng Kiến thiết được chuyển từ vị thế trực thuộc Bộ Tài chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với tên mới là “Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam”.

Đây không đơn thuần chỉ là sự “chuyển vị”, thay đổi cơ quan chủ quản và thay đổi tên gọi của một tổ chức. Về thực chất, sự thay đổi này bắt đầu cho sự thay đổi căn bản, là đổi mới cơ chế vận hành, phương thức hoạt động của Ngân hàng Kiến thiết: Thiết chế tài chính này không còn thuộc hệ thống tài khóa - ngân sách “cấp phát”, hoạt động theo cơ chế “bao cấp” mà chuyển dần sang hệ thống tài chính - ngân hàng, thực hiện các hoạt động tín dụng để phục vụ nền kinh tế. 

Có nghĩa là chức năng chung không thay đổi - nhiệm vụ chính vẫn là cấp phát vốn ngân sách cho nền kinh tế, đáp ứng các yêu cầu về vốn cho lĩnh vực đầu tư và xây dựng, phục vụ các dự án lớn, các chương trình tầm cỡ quốc gia. Nhưng phạm vi phục vụ được mở rộng, một số quan hệ tín dụng đầu tư phát triển sơ khai như cho vay dài hạn theo Nghị định số 32/NĐ-CP tập trung chủ yếu lĩnh vực nông nghiệp, cho vay trung hạn cải tiến kỹ thuật mở rộng sản xuất. Với cơ chế, phương thức thực hiện chức năng được thay đổi, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, khác với tiền thân Ngân hàng Kiến thiết của mình, không chỉ phục vụ Nhà nước mà còn trực tiếp phục vụ doanh nghiệp, phục vụ thị trường, bắt đầu chuyển dần sang hoạt động tín dụng ngân hàng theo cơ chế “vay để cho vay” của thị trường...

Bước sang giai đoạn 1981 - 1990 là khoảng thời gian tương đối ngắn (chỉ 10 năm) so với giai đoạn trước 1957 - 1980 (23 năm), nhưng kết quả hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam lại đóng góp rất tích cực trong đổi mới. Các quan hệ tín dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được mở rộng, vai trò tín dụng được nâng cao. Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đảm bảo cung ứng vốn lưu động cho các tổ chức xây lắp, khuyến khích các đơn vị xây lắp đẩy nhanh tiến độ xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mở rộng năng lực sản xuất, tăng cường chế độ hạch toán kinh tế. Những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam thời kỳ này lớn hơn giai đoạn trước gấp bội - cả về tổng nguồn vốn cấp phát, tổng nguồn vốn cho vay và tổng số tài sản cố định đã hình thành trong nền kinh tế.

1990 - 2012

Giai đoạn “Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” gắn với quá trình chuyển đổi của BIDV từ một ngân hàng thương mại “quốc doanh” sang hoạt động theo cơ chế của một ngân hàng thương mại, tuân thủ các nguyên tắc thị trường và định hướng mở cửa của nền kinh tế.

Năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 401/CT về việc thành lập Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên cơ sở đổi tên Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Nhưng đây không đơn thuần là việc đổi tên lần thứ ba của Ngân hàng mà thực chất phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ trong chức năng hoạt động thực tế của BIDV, trong vai trò đối với nền kinh tế mà BIDV đảm nhiệm: chuyển từ giai đoạn đầu tư chỉ đơn giản là “xây dựng” sang một trạng thái chất lượng mới - đầu tư để “tăng trưởng, để thúc đẩy “phát triển”. BIDV không đơn thuần cung ứng một loại dịch vụ phục vụ hoạt động xây dựng mà đã chuyển sang đóng vai trò “động lực thúc đẩy phát triển”.

Bắt đầu từ đây, BIDV thực sự chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại, trong không gian mở cửa - hội nhập với thế giới. Tên gọi mới cũng như thực chất hoạt động của Ngân hàng đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của BIDV - cả về chất lượng (cơ chế) lẫn tầm vóc (quy mô và đẳng cấp thị trường). Đặc biệt, trong thời kỳ này, BIDV đã chuyển sang phương thức hoạt động mới là “đi vay để cho vay” nên trọng tâm là huy động vốn trong và ngoài nước để cho vay các dự án sản xuất kinh doanh theo kế hoạch nhà nước, cứu sản xuất khỏi tình trạng thiếu vốn khi Nhà nước đã chấm dứt cấp phát không hoàn lại cho các doanh nghiệp.

Đến năm 1995, BIDV chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại sau khi đã chuyển chức năng cấp phát vốn ngân sách nhà nước và một phần cán bộ sang Tổng cục Đầu tư - Phát triển trực thuộc Bộ Tài chính. Từ đây, BIDV tiếp tục phát triển và đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ phục vụ, thúc đẩy nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thoát khỏi cơ chế bao cấp, BIDV đã xác lập cho mình một quỹ đạo phát triển mới, phù hợp với logic phát triển của quốc tế và thời đại, tự tin bước vào thế giới mở cửa - hội nhập, chấp nhận cạnh tranh và tiến vượt lên. BIDV chuyển sang giai đoạn mở rộng hoạt động kinh doanh đa năng, đa lĩnh vực, trên một thị trường rộng lớn và mang tính cạnh tranh hơn, với việc khẳng định thương hiệu và vị thế ngày càng vững chắc trên thị trường tài chính, ngân hàng.

Trong giai đoạn này, nhất là từ năm 1996, BIDV đã từng bước xoá thế “độc canh tín dụng” trong hoạt động ngân hàng, tập trung huy động vốn, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, tăng dần tỷ trọng thu từ dịch vụ và kinh doanh tiền tệ. Hoạt động ngân hàng bán lẻ mới được BIDV manh nha triển khai từ đầu những năm 1990, với nghiệp vụ đầu tiên là huy động vốn dân cư. Hoạt động ngân hàng bán lẻ sau này được phát triển mạnh và thực sự có sự thay đổi căn bản về chất - xét theo chuẩn mực kinh tế thị trường - chỉ từ năm 2009. Cùng với việc phát triển các hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại, BIDV tiến hành các hoạt động đầu tư thông qua việc thành lập các công ty con, công ty liên doanh qua đó hình thành mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng với các trụ cột là ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư tài chính.

Từ chỗ là một định chế tài chính sinh ra để phục vụ Nhà nước và các Doanh nghiệp Nhà nước, giờ đây, BIDV trở lại đúng chức năng “gốc” của một ngân hàng: phục vụ doanh nghiệp, phục vụ các chủ thể thị trường - bằng các công cụ thị trường và theo nguyên tắc thị trường. Để đáp ứng sự thay đổi đó, hoạt động quản trị điều hành của BIDV bắt đầu tiệm cận đến các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời, từng bước trở thành một thực thể thị trường quốc tế.

Trong giai đoạn này, khủng hoảng tài chính cũng như suy giảm kinh tế thế giới (2007 - 2008), BIDV luôn chứng tỏ là một lực lượng hỗ trợ tích cực, thúc đẩy mạnh mẽ các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Đặc biệt, BIDV lựa chọn giải pháp tự mình đầu tư mở rộng hoạt động trên thị trường quốc tế - mở văn phòng đại diện, lập chi nhánh ở nước ngoài, đồng thời, tích cực tìm cơ hội, mở đường, hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Năm 1990, là mốc đầu tiên của BIDV thực hiện các hoạt động đối ngoại và kinh doanh quốc tế khi Nhà nước cho phép kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài khoản tại nước ngoài. Ngay sau đó, BIDV triển khai hoạt động ngân hàng đại lý các nguồn vốn ủy thác nước ngoài cho các tổ chức đơn phương và đa phương. Thực hiện chiến lược đa phương hóa trong hợp tác kinh tế và mở rộng thị trường, BIDV đã thiết lập các liên doanh với các đối tác nước ngoài. Trong giai đoạn này, BIDV tiến hành đầu tư ra nước ngoài trên trên một dải rộng dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Để thâm nhập thị trường quốc tế, bước đầu tiên, BIDV chọn mở ra thị trường gần (mở Ngân hàng liên doanh Lào - Việt, tiến vào thị trường Campuchia), từng bước tiến ra thị trường xa hơn - Myanmar, rồi sang châu Âu, với tọa độ đầu cầu ở Liên bang Nga, Cộng hòa Séc.

Trong quá trình đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế, BIDV đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối đưa dòng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam, mở đường và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài, góp phần bồi đắp quan hệ kinh tế, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.

Sự lớn mạnh của BIDV trong thời kỳ này còn được thể hiện qua việc đã có bước phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin từ không đến có, từ thủ công đến hiện đại. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ, công nghệ thông tin được ứng dụng và phát huy hiệu quả trong các nghiệp vụ cốt lõi của ngân hàng như thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước, huy động vốn, quản lý tín dụng, kinh doanh tiền tệ và quản trị điều hành. BIDV cũng tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, triển khai các sản phẩm ngân hàng số (Digital Banking), góp phần quan trọng vào kết quả và sự phát triển của BIDV.

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của BIDV thì cũng trong giai đoạn này, BIDV tập trung phát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, mạng lưới ATM trên phạm vi cả nước; đồng thời hình thành các công ty trực thuộc, công ty con hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,...

Nhìn vào quá trình phát triển của BIDV, trong thời kỳ hoạt động với tên gọi Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, với sự chuyển đổi và thực hiện mô hình kinh doanh đa năng, tổng hợp theo mô hình ngân hàng thương mại hiện đại với xu hướng mở rộng các hoạt động ngân hàng bán lẻ đã có bước phát triển vượt bậc về tầm vóc, cả về “lượng” và “chất”, BIDV đã vươn lên thành một ngân hàng đẳng cấp trong nước và quốc tế, có đủ năng lực cạnh tranh để tham gia vào sân chơi toàn cầu.

2012 - nay

Giai đoạn “Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là một bước phát triển mạnh mẽ của BIDV trong tiến trình hội nhập. Đó là sự thay đổi căn bản và thực chất về cơ chế, sở hữu và phương thức hoạt động khi BIDV cổ phần hóa thành công, trở thành ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động đầy đủ theo nguyên tắc thị trường với định hướng hội nhập và cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ.

Đây là chặng mới nhất trong lịch sử phát triển của BIDV. Tuy chỉ là một chặng ngắn trong bề dày truyền thống của BIDV nhưng lại gắn với ba đặc điểm lớn của bối cảnh phát triển:

Thứ nhất, đây là giai đoạn có bối cảnh tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, tác động rất mạnh, theo chiều hướng gia tăng thách thức; nền kinh tế Việt Nam có độ mở cửa cao và đang gặp nhiều khó khăn về cơ cấu.

Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam đang phải giải quyết đồng thời hai tuyến nhiệm vụ: (i) Phục hồi tăng trưởng, khắc phục các “điểm nghẽn” và tình trạng bất ổn vĩ mô, ổn định nền kinh tế; (ii) Thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng với tư cách là nhiệm vụ chiến lược trọng tâm.

Thứ ba, BIDV tiến hành cổ phần hóa theo Quyết định số 2124/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong thời kỳ này, chức năng mang tính sứ mệnh của BIDV cơ bản vẫn là cung ứng vốn cho nền kinh tế để giải quyết các công trình dự án mang tầm chiến lược quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển mới, khi nền kinh tế bắt đầu giai đoạn “ra khơi”, cần nhiều tàu to để đương đầu với sóng lớn, đã tạo ra hoàn cảnh mang tính động lực thúc đẩy BIDV đẩy nhanh quá trình “cải tổ” chính mình trong khuôn khổ công cuộc tái cơ cấu kinh tế.

Ngày 28-12-2011, BIDV đã tiến hành cổ phần hóa thông qua việc bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO). Ngày 27-4-2012, BIDV chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần. Ngày 24-01-2014, BIDV giao dịch chính thức cổ phiếu với mã chứng khoán BID trên sàn chứng khoán

Sau cổ phần hóa, tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ giảm xuống dưới 100%, đồng nghĩa với việc thay đổi cơ cấu sở hữu của Ngân hàng - từ chỗ chỉ có duy nhất là sở hữu nhà nước sang bao gồm cả sở hữu tư nhân. Tuy phần vốn nhà nước nắm giữ trong BIDV vẫn là áp đảo, song rõ ràng đã có sự thay đổi thực sự về chất - từ cơ cấu sở hữu đến hệ thống quản trị ngân hàng - cả cơ chế lẫn bộ máy và phương thức vận hành. Đó là những thay đổi đảm bảo cho BIDV tăng cường tính minh bạch và theo thông lệ quốc tế, hoạt động hiệu quả trong môi trường thị trường và cạnh tranh quốc tế.

Trong giai đoạn chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần, tình hình kinh tế thế giới và trong nước không mấy thuận lợi nhưng BIDV vẫn tiếp tục duy trì và phát triển. Quy mô tăng trưởng nhanh, năng lực tài chính cũng được nâng cao; BIDV tiếp tục bồi đắp và gia tăng những yếu tố phát triển bền vững cả về chiều rộng, chiều sâu, cả về quy mô, phạm vi và lĩnh vực hoạt động. Đây cũng là giai đoạn BIDV hoàn thành căn bản đề án tái cơ cấu giai đoạn 1, đổi mới toàn diện mọi hoạt động của BIDV theo yêu cầu mới. Giai đoạn này BIDV đã cơ bản giải quyết những vấn đề lớn liên quan đến củng cố, sắp xếp, tái cơ cấu hoạt động; vị trí, vai trò thương hiệu, hình ảnh của BIDV đã được định vị và khẳng định ở cả trong và ngoài nước.

Trong hoạt động điều hành cân đối nguồn vốn, BIDV đã điều hành vốn một cách linh hoạt và chủ động, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động của ngân hàng. BIDV chú trọng và có những chính sách ưu tiên gia tăng nguồn vốn huy động từ khách hàng dân cư.

Trong hoạt động phục vụ doanh nghiệp, BIDV đã đồng hành chia sẻ, hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp thông qua các chương trình tín dụng trọng điểm, các gói hỗ trợ lãi suất, đồng thời, triển khai các biện pháp hỗ trợ, đẩy mạnh cho vay mới theo nhu cầu đối với những khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng khôi phục, phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, BIDV đã chủ động triển khai các gói tín dụng theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, đi đầu trong việc hạ lãi suất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay.

Hoạt động bán lẻ của BIDV cũng đã có những thay đổi toàn diện trên các phương diện như mô hình tổ chức, sản phẩm dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng và đổi mới hoạt động bán lẻ theo thông lệ quốc tế.

Trong giai đoạn này, BIDV đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu kế hoạch kinh doanh, gia tăng năng lực cạnh tranh, gia tăng sức mạnh nội tại về “chất”, có ý nghĩa căn bản, lâu dài đối với sự phát triển của hệ thống và vươn lên trở thành ngân hàng thương mại cổ phần đứng đầu thị trường và có tính bền vững, ổn định.

1957 - 1981
1981 - 1990
1990 - 2012
2012 - nay
BIDV

Kết quả gợi ý

    Các sản phẩm/dịch vụ gợi ý

      Tìm thấy Kết quả
      Tìm thấy Kết quả
      Tìm thấy Kết quả
      Tìm thấy Kết quả
      Tìm thấy Kết quả
       
      Συμπληρωματικό περιεχόμενο
      ${loading}